MÔN HỌC XÃ HỘI, SỐNG TỐT - HỌC VUI, VĂN

Bài làm văn số 2 – Tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm về câu chuyện Chiếc Lá Cuối Cùng của O. Henry


18-11-2011 (Giúp  Con Học) — Đề bài: “Đóng vai Sue hoặc Johnsy kể lại câu chuyện “Chiếc lá cuối cùng” của nhà văn Mỹ O. Henry.” — Tác phẩm “The Last Leaf” by O. Henry (1862-1910).

(Chú thích: Yêu cầu học sinh phải dựa trên cốt truyện và thay đổi toàn bộ lời kể và phương pháp biểu đạt.)

* Bài làm hoàn chỉnh:

Bầu trời mùa đông xám xịt nặng trịch ụp lên bóng mấy cành cây khẳng khiu trụi lá. Gió thổi hun hút cuốn theo một đợt lá thường xuân rụng lả tả. Tôi đứng trong bếp, tay múc đồ ăn tối ra đĩa, tự hỏi nếu giờ mà phải ra khỏi nhà thì sẽ lạnh thế nào. Đúng lúc ấy, tiếng chuông gọi cửa vang lên.

Đó là một người phụ nữ tầm tuổi tôi, có lẽ nhỏ hơn tôi khoảng một hay hai tuổi. Dáng người nhỏ nhắn cùng mái tóc quăn màu hạt dẻ của cô ấy gợi cho tôi điều gì thật thân thương.

- Chị Sue, chị còn nhớ em không? Em là Johnsy đây mà!
- Ôi Johnsy! Em đã xinh đẹp và trưởng thành quá, làm chị không nhận ra nữa. Vào nhà thôi, ngoài này lạnh lắm.

Tôi cùng Johnsy trò truyện hồi lâu trong phòng khách ấm áp. Đã rất lâu rồi, chúng tôi không liên lạc gì với nhau. Ngày ấy, khi cả hai cùng tìm được con đường riêng, chúng tôi đã từ biệt nhau và rời khỏi căn nhà nhỏ tí sập xệ đó. Vì bận bịu nên thư từ ít dần, rồi tôi không còn nhận được tin tức gì từ Johnsy nữa.

Chiếc Lá Cuối Cùng (ảnh minh họa)

Johnsy vẫn nhỏ nhẹ và mơ mộng như ngày nào. Cô khoe rằng mình đã thực hiện được ước mơ vẽ vịnh Naples thuở xưa. Tôi bỗng bồi hồi nhớ lại câu chuyện buồn ngày ấy. Cả hai chúng tôi chìm vào dòng hồi tưởng…

- Nếu không có chị chăm sóc, và không có cụ Behrman, thì em đã không có ngày hôm này. Mà em thật là một cô bé ngốc nghếch, chị Sue nhỉ? – Johnsy nói khẽ.

- Cụ Behrman là ai hả cô? – Mary, cô con gái bảy tuổi của tôi bất ngờ thò đầu ra từ sau chiếc ghế bành.

- Chen ngang người lớn như vậy là hư đấy Mary! – Tôi kêu lên, nhưng Johnsy lại tỏ vẻ thích thú.

- Chào Mary, cô cháu mình chưa gặp nhau bao giờ nhỉ? Cô là Johnsy. Cô đã thấy những bức tranh của cháu đính trên tường; chắc hẳn cháu thích vẽ phải không? Thế cháu có muốn nghe cô kể về bức tranh kiệt tác đã cứu sống cô không?

Mary mừng rỡ gật đầu. Thế là câu chuyện bắt đầu, trong khi ở ngoài mưa lộp độp rơi và gió vẫn không ngừng…

“Cô và mẹ cháu sống cùng nhau trong một căn nhà tồi tàn thấp lè tè ở gần Công viên Washington. Mùa đông năm đó lạnh vô cùng, lạnh hơn năm nay nhiều. Cô bị bệnh sưng phổi – cháu có biết bị bệnh sưng phổi là như thế nào không? Ho và sốt cao, mệt lắm. Cô phải nằm một chỗ.

Từ cửa sổ cạnh chỗ cô nằm, có thể nhìn thấy một dây thường xuân già thật già bò ngoằn ngoèo trên bức tường gạch của căn nhà kế bên. Không hiểu sao, từ hôm ngã bệnh, dây thường xuân đó gây chú ý với cô nhiều hơn. Cứ khi gió thổi và lá rụng, cô lại nghe thấy rất rõ âm thanh từng chiếc lá chạm vào mặt đất lạnh ngắt, và thì thầm với cô rằng: hãy buông xuôi tất cả, vi mi chẳng còn cơ hội đau; đừng cố gắng vô ích… Chúng như thúc giục cô hãy đếm chúng đi; chúng sẽ báo cho cô cái ngày mà đến lượt cô chạm vào đất lạnh như chúng. Và cô đã thật sự, thật sự tin rằang, khi chiếc lá thường xuân cuối cùng lìa cành, cô cũng sẽ ra đi.”

- Thế cô có khám bác sĩ không? Mẹ, mẹ có chăm sóc cô Johnsy không vậy?

Tôi xoa đầu bé con.

“Có chứ con, mẹ đã tìm đủ mọi cách có thể để giúp Johnsy khỏi bệnh. Mẹ mời bác sĩ, nhưng ông ấy bảo cơ may sống rất ít, và với tinh thần bi quan của cô ấy thì thuốc men mấy cũng chẳng tác dụng gì hết. Mẹ đã khóc nhiều, phải, tuy vậy mẹ vẫn gượng làm mặt tươi tỉnh và cố làm Johnsy vui lên.

Nhưng mọi chuyện mới tuyệt vọng làm sao! Johnsy không ăn uống gì, và khăng khăng mình sẽ chết khi chiếc lá cuối cùng của dây thường xuân rụng xuống. Mẹ vừa buồn vừa giận. Giận Johnsy quá bi quan, giận mình quá vô dụng, giận ông bác sĩ không chịu khám kĩ hơn, giận cả những chiếc lá thường xuân sao không nằm im trên cành… Không chỉ có mẹ, cụ Behrman cũng đã rất tức giận.”

- Thế cụ Behrman ấy là ai hả mẹ?

“À, cụ Behrman là ông cụ sống cùng nhà với mẹ và cô Johnsy, ở tầng dưới. Cụ có bộ râu dài và rậm hơn cả ông nội con. Cụ mơ ước vẽ một kiệt tác nhưng suốt bốn mươi năm cụ chẳng vẽ được gì mấy. Cụ lại còn nghiện rượu nặng, và hay mắng mỏ khi có ai tỏ ra yếu đuối. Nhưng thật ra cụ là người tốt, rất quý Johnsy, và nhận mình là người bảo vệ cho mẹ và Johnsy.

Khi mẹ kể cho cụ nghe về việc Johnsy đã tuyệt vọng buông xuôi, cụ tức giận lắm, chửi mắng om sòm, mắng cả mẹ sao lại để Johnsy nghĩ như vậy. Hẳn là cụ thương Johnsy lắm.”

Mary chợt nói: – Con muốn cô Johnsy kể tiếp!

Johnsy dứt cái nhìn mơ màng khỏi cửa sổ:

- Ừ, được rồi. Đêm đó bão to, phải không chị Sue? Bão tới hai đêm liền.

- Phải, bão to lắm. Mưa liên tục táp ầm ĩ vào mái nhà, còn gió thổi liên hồi, buốt như đá. Cây cối ngoài vườn thì nghiêng nả. cả đêm đó chị không ngủ được, chỉ biết cầu nguyện cho cái lá thường xuân cuối cùng đó ở lại trên cành…

- Thế lúc ấy cô thấy thế nào, hả cô Johnsy? – Mary ngẩng mặt hỏi.

“Cô đã tin chắc rằng cái lá đó rụng trong đêm. Cô ngủ mà trong đầu chỉ nghĩ đến chiếc lá. Buổi sáng cô dậy sớm. Đầu cô hoàn toàn trống rỗng. Mành đang hạ nên cô không nhìn thấy bức tường gạch, nhưng cô mường tượng ra cái dây thường xuân trơ trọi chẳng còn lá đang chờ đợi cô. Cô như đã nghe thấy tiếng cuốn lá bứt khỏi thân, rồi chiếc lá từ từ đong đưa trong không khí, nhẹ nhàng chạm xuống mặt đất ẩm ướt và nằm đó mãi mãi. Giống như cô – ấy là cô nghĩ thế – khi mành được kéo lên.”

- Chị sẽ kể tiếp, Johnsy – tôi nói.

“Mãi đến gần sáng, mẹ mới chợp mắt một lát vì mệt mỏi. Nhưng rồi mẹ tỉnh dậy ngay, và chao ôi, Johnsy khi ấy… Cô ấy mới gầy làm sao, mặt xanh xao, mái tóc yêu quý thì bị bỏ rối bời không chải chuốt. Đôi mắt xanh đẹp tuyệt lúc đó thật vô hồn, thẫn thờ đến đáng sợ. Vì Johnsy muốn, mẹ kéo mành lên – và, ôi, chiếc lá vẫn còn ở đó! Mẹ thì không thể quên được nó. Cuống lá xanh thẫm, rìa thì te tua, vàng úa cả rồi. Nó vẫn bám chắc ở đó mặc cho mưa gió khủng khiếp.

Vậy mà Johnsy không chịu lạc quan lên chút nào, thật là một cô bé hư! Cô ấy một mực quả quyết hôm sau chiếc lá sẽ rụng. Mẹ không biết phải làm sao nữa. Đến đêm trời lại bão.”

Johnsy tiếp lời: “Sáng hôm sau, cô đã quá mệt mỏi. Cô nhớ là nắng vàng rất đẹp và trời ấm hơn vì bão đã tan. Thế nhưng lúc đó cô chỉ nghĩ đến việc chiếc lá đã rụng. Cô đòi kéo mành lên, và…

Chiếc lá vẫn còn ở đó.”

- Ôi, mới thần kì làm sao! – Mary reo lên, khiến Johnsy cười khẽ.

“Đó đúng là phép màu thực sự, phải không Mary? Cô nhìn nó rất lâu, rất rất lâu. Khác với những chiếc lá thường xuân kia đã khuyên cô buông xuôi, chiếc lá này như mỉm cười và dịu dàng trách móc. Cô thấy mình thật là hư, thật tồi tệ. Mẹ cháu đã bỏ bao công chăm sóc, mà cô lại cứ tuyệt vọng như thế, trong khi chiếc lá đó vẫn cứ trụ vững sau hẳn hai đêm bão tàn nhẫn. Cô đã nghĩ : “Sao nào Johnsy, không lẽ mày lại thua chiếc lá bé nhỏ đó ư?” Và rồi, nghĩ đến đó, cô thấy đói, muốn ăn. Cô muốn chải tóc, mặc quần áo đẹp. Cô muốn được nhìn gương mặt thân thương của mẹ cháu, muốn được ngắm mẹ cháu nấu nướng – khi bận bịu như thế trông mẹ cháu rất dễ thương. Cô muốn được… sống tiếp.”

Bỗng Johnsy ngừng lại. Tôi hiểu, nên tôi nói tiếp ngay.

“Mẹ kể tiếp nhé! Khỏi phải nói mẹ đã mừng thế nào. Johnsy tươi tỉnh hẳn, gò má có chút hồng lại, đôi mắt lại lấp lánh ước mơ và hi vọng. Bác sĩ nói mẹ cùng Johnsy đã chiến thắng “gã Sưng phổi” đáng ghét. Nhưng cùng lúc đó, một tin buồn đến…”

Tôi ngừng lại, nhưng lạ một điều là Mary không hỏi gì mà chỉ mở to mắt nhìn tôi.
“Cụ Behrman mất vì sưng phổi. Lúc người ta tìm thấy cụ trong phòng, quần áo cụ ướt sũng và lạnh ngắt. Còn có cả một chiếc thang, một cái đèn bão, và bảng pha màu với hai màu xanh lá trộn lẫn vàng. Con biết sao không?…”

Tôi nhìn Johnsy. Cô không nói gì.

“… chiếc lá mà mẹ và Johnsy nhìn thấy chính là kiệt tác của cụ Behrman vẽ trong đêm mưa bão – kiệt tác đã cứu sống một mạng người”

Cả ba chúng tôi cùng im lặng, nhường cho âm thanh giận dữ của thiên nhien. Mary nhìn ra cửa sổ hồi lâu, rồi bỗng cầm giấy bút lên vẽ. Johnsy chỉ cho tôi nhìn theo.

Một chiếc lá thường xuân duy nhất còn sót lại lay lắt trong gió trên dây thường xuân. Cuống nó thẫm xanh, rìa nó đã te tua cả, lại úa vàng.

Rồi, rất nhẹ nhàng, cuống lá bứt ra và chiếc lá mong manh lướt đi theo gió.

 


Bài làm của Vương Thu Trang – lớp 8 Pháp (song ngữ), Trường THCS Giảng Võ – Năm học 2011~2012.

(Tổng lượt đọc: 4,764; Đọc trong ngày: 1)

2 Responses to Bài làm văn số 2 – Tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm về câu chuyện Chiếc Lá Cuối Cùng của O. Henry

  1. VQH on November 19, 2011 at 10:49 AM

    Bài văn này đọc rất thích. Mang lại sự thích thú cho độc giả đã là niềm vui của “tác giả nhí” rồi đó. Bài văn này còn làm tôi nhớ tới câu chuyện của chính vị “nhạc phụ đại nhân” của tôi. Ông ấy từng là giáo sư đại học (của VN) đã về hưu.

    Số là ông ấy làm cái bằng Phó Tiến Sỹ của Việt Nam, thời đó cũng là oách so với đa số người Việt còn đang thèm khát cả bằng tại chức/chuyên tu. Rồi được dự thi đi “thực tập sinh” ở Liên Xô (cũ). Trong đó có thi tiếng Nga.

    Tiếng tăm tậm tịt thôi, nên khi thi lo lắng. Vào phòng thi, nghe đọc bài nghe hiểu, trả lời câu hỏi gì đó mà không sao hiểu và vận ra “vấn đề cốt lõi”. Thấy lá lá gì, thì lại cứ nghĩ là vấn đề “sinh học – nông nghiệp”.

    Cuối cùng mới té ngửa ra chính là “Chiếc Lá Cuối Cùng” của O. Henry.

    Giờ kể lại mà nhạc phụ đại nhân vẫn cười hỉ hả. Kể cũng thú vị.

  2. TTD on November 18, 2011 at 11:44 PM

    Chuyện rất hay. Mà hình như Mary giờ 8 tuổi rồi chứ.

Leave a Reply

%d bloggers like this: