ÂM NHẠC, HỌC CÙNG CON, LỊCH SỬ, MÔN HỌC XÃ HỘI, NĂNG KHIẾU, PHỤ HUYNH BẢO NHAU

Quốc ca Việt Nam: “Tiến Quân Ca” của Nhạc sỹ Văn Cao

By


26-10-2011 (Giúp Con Học) — Tiến quân ca là quốc ca của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam kể từ năm 1946 khi Việt Nam còn là chính thể Dân Chủ Cộng Hòa. Chính xác hơn thì quốc ca Việt Nam là lời 1 của bài Tiến quân ca. Tác giả bài hát là nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995). Ngay từ khi ra đời, bài hát được coi là bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh. Trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám năm 1945, thay vì “Đoàn quân Việt Nam đi”, những người tham gia Việt Minh thường hát là “Đoàn quân Việt Minh đi”.

Hoàn cảnh ra đời
Mùa đông năm 1944, Văn Cao gặp Vũ Quý, một cán bộ Việt minh, ở ga Hàng Cỏ. Vũ Quý là người từng quen biết Văn Cao và đã động viên ông viết những bài hát yêu nước như Đống Đa, Thăng Long hành khúc ca… Vũ Quý đề nghị Văn Cao thoát ly hoạt động cách mạng, và nhiệm vụ đầu tiên là sáng tác một bài hành khúc cho đội quân Việt Minh.

Văn Cao viết bài hát đó trong nhiều ngày tại căn gác số 45 Nguyễn Thượng Hiền. Ông có viết lại trong một ghi chép tháng 7 năm 1976 như sau: “…Tôi chỉ đang làm một bài hát. Tôi chưa được biết chiến khu, chỉ biết những con đường Phố Ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ theo thói quen tôi đi. Tôi chưa gặp các chiến sĩ cách mạng của chúng ta, trong khóa quân chính đầu tiên ấy, và biết họ hát như thế nào. Ở đây đang nghĩ cách viết một bài hát thật giản dị cho họ có thể hát được…”[1]

Văn Cao nói rằng, tên bài hát và lời ca của nó là một sự tiếp tục từ ca khúc Thăng Long hành khúc ca trước đó: “Cùng tiến bước về phương Thăng Long thành cao đứng” và bài Đống Đa: “Tiến quân hành khúc ca, thét vang rừng núi xa”… Và ông đã rút lại những ca từ trong bài hát đó thành Tiến quân ca.

Nhạc sỹ Văn Cao; 15-11-1923 -- 10-7-1995

Bài hát viết xong, Văn Cao gặp và hát cho Vũ Quý nghe. Vũ Quý rất hài lòng, giao cho Văn Cao tự tay viết bài hát lên đá in. Và lần đầu tiên Tiến quân ca được in trên trang văn nghệ của báo Độc Lập tháng 11 năm 1944 bằng bản in đá do chính Văn Cao viết. Nguyễn Đình Thi khi nghe Văn Cao hát bài hát này, đã xúc động thật sự, và đề nghị mỗi người viết một bài hát nữa về mặt trận Việt Minh. Sau đó Nguyễn Đình Thi viết được bài Diệt phát xít, Văn Cao viết thêm bài Chiến sĩ Việt Nam, cả hai bài hát này đều phổ biến rộng rãi trong công chúng.

Quốc ca
Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức duyệt Tiến quân ca làm quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[2] Ngày 17 tháng 8 năm 1945, trong cuộc mít tinh của nhân dân Hà Nội trước Nhà hát lớn, bài Tiến quân ca đã được cất lên. Cũng tại quảng trường Nhà hát lớn, ngày 19 tháng 8 năm 1945, trong cuộc mít tinh lớn, dàn đồng ca của Đội Thiếu niên Tiền phong đã hát bài Tiến quân ca chào lá cờ đỏ sao vàng.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Tiến quân ca chính thức được cử hành trong ngày Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình bởi Ban nhạc Giải phóng quân do Đinh Ngọc Liên chỉ huy. Trước ngày biểu diễn, nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên và nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu đã bàn với Văn Cao thống nhất sửa hai chữ trong Tiến quân ca, cụ thể là rút ngắn độ dài của nốt rê đầu tiên ở chữ “Đoàn” và nốt mi ở giữa chữ “xác” làm cho bản nhạc khoẻ khoắn hơn.[3]

Năm 1946, Quốc hội khóa I đã quyết định chọn Tiến quân ca làm quốc ca. Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam, tại điều 3 ghi rõ: “Quốc ca là bài Tiến quân ca”. Năm 1955, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá I đã quyết định mời tác giả tham gia sửa một số chỗ về phần lời của quốc ca.[4] Văn Cao đã luyến tiếc vì một số chữ sửa đã làm mất khí thế hùng tráng của ca khúc.[1]

Sau năm 1975, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, ngày 2 tháng 7 năm 1976, hai miền Nam Bắc thống nhất thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và quốc ca là Tiến quân ca. Năm 1981, Việt Nam tổ chức sẽ thay đổi quốc ca. Một cuộc thi được mở ra nhưng sau hơn một năm, cuộc thi này không được nhắc tới nữa và cũng không có tuyên bố chính thức gì về kết quả. Tiến quân ca vẫn là quốc ca Việt Nam cho tới ngày nay.

Lời
Bài này gồm 2 lời, nhưng Quốc ca chỉ hát lời 1.
Tiến Quân Ca – Lời 1

Đoàn quân Việt Nam đi
Chung lòng cứu quốc
Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,
Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca.
Đường vinh quang xây xác quân thù,
    Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu.
    Vì nhân dân chiến đấu không ngừng,
    Tiến mau ra sa trường,
    Tiến lên, cùng tiến lên.
    Nước non Việt Nam ta vững bền.

Tiến Quân Ca – Lời 2

Đoàn quân Việt Nam đi
Sao vàng phấp phới
Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than
Cùng chung sức phấn đấu xây đời mới,
Đứng đều lên gông xích ta đập tan.
Từ bao lâu ta nuốt căm hờn,
Quyết hy sinh đời ta tươi thắm hơn.
Vì nhân dân chiến đấu không ngừng,
Tiến mau ra sa trường,
Tiến lên, cùng tiến lên.
Nước non Việt Nam ta vững bền.

Bản quốc ca đầu tiên[5]
Trong quá khứ, Việt Nam chỉ mới bắt đầu có quốc ca từ giữa thế kỷ 20. Trước đó, Việt Nam không có truyền thống chỉ định một bài nhạc làm quốc ca, theo nghĩa được hiểu hiện nay.

Theo Nguyễn Ngọc Huy, đến thời Đệ nhị thế chiến, hoàng đế Bảo Đại xuống chiếu chọn một quốc kỳ và quốc ca. Quốc kỳ là cờ long tinh còn quốc ca là bài “Đăng đàn cung”.

Đăng đàn cung là một bản cổ nhạc Việt Nam, hiện vẫn được sử dụng trong hầu hết các giáo trình dạy cổ nhạc và nhạc cụ cổ truyền. Đây là bài nhạc nằm trong nghi thức lễ tế Nam Giao, được dùng khi vua ngự đến đài tế lễ. Lễ tế Nam Giao, thực hiện ba năm một lần vào ngày đông chí, là lễ quan trọng nhất trong nghi thức của triều đình, khi nhà vua thay mặt quốc dân làm lễ tế trời.

Bài Đăng đàn cung được dùng cho nước Đại Nam, gồm Trung kỳ và Bắc kỳ, chứ không dùng cho Nam kỳ vì Nam kỳ là đất thuộc địa, một lãnh thổ hải ngoại của Pháp.

Khi được chọn làm quốc ca, bài Đăng đàn cung có lời bắt đầu với:

Bên núi sông hùng vĩ trời Nam.
Đã bao đời vết anh hùng chưa hề tan.
Vì đâu máu ai ghi ngàn thu.
Còn tỏ tường bên núi sông.
Xác thân tan tành.
Vì nước quên mình.

Giai đoạn 1945 – 1954
Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, chính quyền Nhật tuyên bố “trao trả độc lập” cho Việt Nam. Chính phủ Đế quốc Việt Nam được thành lập, tuyên bố độc lập trên danh nghĩa, và đổi quốc kỳ ra cờ Quẻ Ly nhưng vẫn giữ quốc ca là bài Đăng đàn cung.

Đồng thời, tại Nam kỳ, sau khi Nhật đảo chánh Pháp thì tại đây dấy lên Đoàn Thanh niên Tiền phong, quy tụ thanh niên yêu nước muốn giành độc lập thật sự. Nhiều người từng là sinh viên tại Viện đại học Hà Nội, là đại học duy nhất cho toàn cõi Đông Dương khi đó. Tại đây, họ đã quen với bài “Sinh viên hành khúc” hay “Tiếng gọi sinh viên,” bài nhạc tranh đấu của Tổng hội sinh viên. Bài nhạc có lời (cả tiếng Pháp tên Marche des étudiants và tiếng Việt) do một nhóm sinh viên soạn, gồm Đặng Ngọc Tốt, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Phan Thanh Hòa, Hoàng Xuân Nhị, và nhạc do Lưu Hữu Phước soạn. Do đó, phong trào Thanh niên Tiền phong lấy bài Tiếng gọi sinh viên, đổi chữ “sinh viên” thành “thanh niên,” và dùng làm đoàn ca. Đoàn kỳ là cờ vàng sao đỏ. Đoàn Thanh niên Tiền phong sau đó gia nhập Việt Minh để chống Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Sau Cách mạng tháng Tám, khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì bài Tiến quân ca được chọn làm quốc ca Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều này được ghi vào hiến pháp ngày 9 tháng 11 năm 1946.

Trong khi đó, năm 1946, tại Nam kỳ, Pháp thành lập Nam Kỳ quốc. Chính phủ Nam kỳ Cộng hòa quốc được thành lập ngày 23 tháng 6 do Nguyễn Văn Thinh lãnh đạo. Chính phủ này dùng quốc ca là một bài hát của giáo sư Võ Văn Lúa, lời dựa trên đoạn đầu “Chinh phụ ngâm khúc”. Chính phủ này tồn tại hai năm.

Năm 1948, chính phủ Quốc gia Việt Nam ra đời, với Bảo Đại làm quốc trưởng và tướng Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng. Chính phủ này sau đó đã chọn bài “Tiếng gọi thanh niên”, đồng thời thay chữ “thanh niên” bằng chữ “công dân”, thành bài “Tiếng gọi công dân”, làm quốc ca.

Giai đoạn 1954 – 1976
Năm 1954, hiệp định Genève chia đất nước ra hai vùng tập kết quân sự. Tại miền Bắc, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục dùng bài “Tiến quân ca” làm quốc ca. Tại miền Nam, chính phủ Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại làm quốc trưởng tiếp tục sử dụng bài “Tiếng gọi công dân”.

Năm 1956, Quốc Hội Lập Hiến tại miền Nam lập nên chế độ cộng hòa, hiến pháp 1956 thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa, bài “Tiếng gọi công dân” vẫn giữ làm quốc ca. Năm 1956, khi Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa soạn thảo hiến pháp cũng từng có ý chọn quốc ca mới. Bài “Việt Nam minh châu trời Đông” của Hùng Lân được chú ý nhiều nhất. Nhưng sau đó quốc hội tuyên bố không chọn được bài nào và giữ nguyên bài Tiếng gọi công dân. Việt Nam Quốc Dân Đảng chọn Việt Nam minh châu trời Đông làm đảng ca.

Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được thành lập. Năm 1969, mặt trận thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Chính phủ này sử dụng quốc ca là bài “Giải phóng miền Nam”, cũng của Lưu Hữu Phước viết dưới bút hiệu Huỳnh Minh Siêng, khi đó là Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, bài “Giải phóng miền Nam” trở thành quốc ca cho cả miền Nam trong nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Cho tới khi hai miền thống nhất ngày 2 tháng 7 năm 1976 thành nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và quốc ca là “Tiến quân ca”.


Tham khảo:
[1] Vietnamnet (18-8-2005), Vài tâm sự của nhạc sĩ Văn Cao về Tiến quân ca
[2]Lao Động (1-9-2010) Chủ tịch Hồ Chí Minh với bài Quốc ca Việt Nam
[3] Hà Nội mới (31-8-2008) Ban nhạc Giải Phóng quân và “Tiến quân ca” mùa thu năm ấy
[4] Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (13-8-2003) Quốc ca Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
[5] Wikipedia: Quốc ca, Tiến Quân Ca

(Tổng lượt đọc: 6,225; Đọc trong ngày: 1)

One Response to Quốc ca Việt Nam: “Tiến Quân Ca” của Nhạc sỹ Văn Cao

  1. VQH on October 28, 2011 at 4:51 PM

    Bài Tiến Quân Ca có âm hưởng và nhịp phách rất hay, hùng tráng. Tôi vẫn nghĩ về mặt âm nhạc, chưa thấy có bài nào thay thế được (đó là còn chưa nói tới bối cảnh lịch sử ra đời thì chẳng thể thay thế nổi).

    Tuy vậy, có một điểm chưa thỏa mãn lắm. Là một bài Quốc Ca, phần triết lý xây dựng tương lai và phát triển đất nước ít quá. Tôi có thử lấy ý kiến các thành viên trong gia đình tôi (chỉ có 5 người, già nhât 70 trẻ nhất 8 tuổi). Tất cả đều chung nhận xét: Nhiều âm thanh của xương, máu, xác quá. Những từ mạnh này lại thường gây ấn tượng lớn hơn các từ khác.

    Đối với vận nước, tôi nghĩ giai đoạn tranh đấu rồi sẽ phải đi đến xây dựng, ấm no, thịnh vượng… thì âm hưởng ấm no, hạnh phúc, giàu đẹp mà rõ rệt và háo hức hơn thì mới thực là tuyệt.

Leave a Reply

%d bloggers like this: